Xung quanh vụ bồi thường 45 tỷ đồng cổ phiếu BMI: Tổng CTy VTNN có lược bớt hồ sơ để chối tội?

Thứ 3, , 17/11/2009, 00:00

Mấy ngày gần đây vụ án tranh chấp cổ phần BMI lại tiếp tục được báo Pháp Luật TP HCM và báo đầu tư Chứng Khoán đề cập đến. Ngoài những nội dung quen thuộc đã được các báo khác đăng tải, điều đặc biệt bạn đọc đã được nhận thông tin thể hiện quan điểm của Tổng Công ty VTNN (Vigecam) về vụ án này qua ý kiến phát biểu của ông Nguyễn Thế Dũng ủy viên HĐQT.

Ông ủy viên HĐQT đã phản ánh khá trung thực hoàn cảnh bi đát của Tổng Công ty VTNN giai đoạn 2005 khiến HĐQT phải ra hàng loạt nghị quyết để rút vốn đầu tư và bán Cổ phần ở hàng chục Doanh nghiệp trong đó cổ phần tại BMI  mà Tổng Công ty bán cho Vinacam là một ví dụ. Điều đáng lưu ý là tất cả các nghị quyết này đều có chữ ký của vị ủy viên HĐQT nêu trên và thậm chí có thời điểm Ông còn ký với tư cách “Phụ trách HĐQT”. Thử hỏi với một HĐQT toàn những nhân vật ưu tú như thế tại sao lại không “phát hiện ra” việc cho phép chuyển nhượng là trái luật, mà cũng không chỉ có một trường hợp này. Nổi tiếng và tương tự không kém là việc chuyển nhượng Cổ phần Cảng Đình Vũ cho Công ty Cổ phần APROMACO cũng có nghị quyết  và chữ ký của Ông và cũng mãi đến sau này khi giá CP Cảng Đình Vũ tăng cao thì lại mới “phát hiện” ra là chuyển nhượng “không đúng luật”!. Tuy nhiên khi APROMACO kiện ra tòa thì cấp tòa phúc thẩm (xét xử trước vụ tranh chấp với Vinacam) cũng đã có phán quyết thừa nhận giao dịch này là giao dịch dân sự hợp pháp đồng thời buộc Tổng Công ty phải làm thủ tục sang tên toàn bộ số cổ  phần đã bán cho APROMACO.

Trở lại vụ tranh chấp cổ phiếu BMI với Vinacam, ông ủy viên HĐQT đã ra sức viện dẫn mọi lý lẽ để bảo vệ quan điểm hợp đồng phải là vô hiệu mà đã vô hiệu thì đương nhiên không phải đền tiền. Tuy nhiên có những tài liệu rất quan trọng chứa đựng nội dung và quan điểm hoàn toàn khác biệt đã bị Ông giấu nhẹm không chuyển giao cho báo giới cụ thể:

 Tại biên bản hòa giải được Tòa án Nhân dân TP.Hà Nội lập hồi 08h30’ ngày 17/07/2008, Tổng Công ty VTNN nêu ý kiến: “Tổng Công ty VTNN đồng ý sang tên ngay cho Công ty Cổ Phần Vinacam 607.600 cổ phiếu của Công ty cổ phần Bảo Minh với điều kiện Công ty cổ phần Vinacam thanh toán cho Tổng công ty VTNN 2.000.000.000 đồng”.

Ắt hẳn khi đọc đến đây các đọc giả, cổ đông và những người quan tâm đến vụ tranh chấp này đã thấy được sự thật việc Tổng công ty nêu quan điểm hợp đồng vô hiệu chỉ là cái cớ để ép buộc Vinacam trả thêm 2 tỷ ngoài hợp đồng. Ý kiến nêu trên cũng chính là thông điệp Tổng công ty thừa nhận hợp đồng có đầy đủ hiệu lưc pháp luật. Vậy tại sao lãnh đạo của Tổng công ty  lại cố tình bưng bít thông tin này? Không có gì khác họ muốn chối bỏ việc thiếu trách nhiệm của mình trong quá trình giải quyết vụ tranh chấp này dẫn đến phải bồi thường gần 45 tỷ đồng theo phán quyết của tòa vì sự thực khi tranh chấp xảy ra Vinacam đã 2 lần gửi văn bản đề nghị hòa giải nhưng đều không được lãnh đạo Tổng công ty hưởng ứng. Nếu họ làm hết trách nhiệm của mình thì rất nhiều khả năng nhà nước đã không phải bỏ ra một số tiền lớn để bồi thường cho Vinacam như phán quyết của tòa.

Chúng tôi xin đăng tải toàn bộ nội dung các bài đã đăng trên báo Đầu tư chứng khoán  và báo Pháp luật TP HCM vào ngày 13 và ngày 16/11/2009 để bạn đọc so sánh:

Báo Đầu tư Chứng khoán số 136:

Tranh chấp mua - bán cổ phần BMI: Hai cấp tòa vẫn chưa dứt điểm

(ĐTCK-online) Một thương vụ chứng khoán tiền tỷ giữa hai tổ chức diễn ra cách đây 4 năm nhưng đến nay vẫn chưa hoàn tất giao dịch. Trong khi bên bán đã nhận đủ tiền thì bên mua lại chưa nhận được cổ phiếu nào. Mọi việc được đưa ra tòa nhưng phán quyết của cơ quan tố tụng vẫn gây ra nhiều tranh cãi. Tất cả xuất phát từ việc giao dịch cổ phiếu bị hạn chế chuyển nhượng.

Tóm tắt vụ việc

Tổng công ty Vật tư nông nghiệp (Vigecam) là DNNN thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp nhà nước. CTCP Vật tư nông nghiệp (Vinacam) được thành lập năm 2005, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp. Năm 2004, Vigecam trở thành cổ đông sáng lập của CTCP Bảo hiểm Bảo Minh khi mua 434.000 cổ phần BMI với giá 130.000 đồng/CP (mệnh giá 100.000 đồng/CP). Ngày 24/8/2005, Vigecam đã ký Hợp đồng số 01/HĐCN/05 chuyển nhượng toàn bộ 434.000 cổ phần trên cho Vinacam với giá 130.000 đồng/CP, tổng trị giá 5,642 tỷ đồng. Khi ấy, mặc dù theo điều lệ của Bảo Minh, cổ đông sáng lập không được phép chuyển nhượng cổ phần trong thời hạn 3 năm, nhưng 2 DN trên vẫn làm hợp đồng chuyển nhượng. Phía Vinacam đã thanh toán hết tiền mua cổ phần cho Vigecam theo kiểu "tiền đã trao nhưng cháo chưa múc". Ngày 22/5/2007, Vigecam còn uỷ quyền cho Vinacam mua 173.000 cổ phần phát hành thêm của Bảo Minh.

Nhận thấy việc chuyển nhượng cổ phần này không phù hợp với điều lệ của Bảo Minh, ngày 25/9/2007, Vigecam đã làm công văn gửi Vinacam xin huỷ hợp đồng chuyển nhượng. Phía Vinacam không chấp thuận, đưa vụ việc ra TAND TP. Hà Nội và Toà Phúc thẩm - TAND Tối cao xét xử. Hai cấp toà đều xử buộc Vigecam phải chuyển nhượng 607.000 cổ phiếu cho Vinacam và bồi thường số tiền lên tới 44,8 tỷ đồng do chênh lệch giá cổ phiếu, trả lại cổ tức... Không đồng tình với phán quyết trên, ngày 15/9/2009, Vigecam đã có đơn đề nghị giám đốc thẩm hủy án sơ thẩm, phúc thẩm, để xét xử lại theo trình tự giám đốc thẩm.

 

Một số vấn đề cần làm sáng tỏ

Mấu chốt của vấn đề là Hợp đồng Số 01/HĐCN/05 có phù hợp với các quy định hay không? Đối chiếu với điều lệ của Bảo Minh thì rõ ràng Vigecam đã chuyển nhượng trước thời hạn (tên hợp đồng là chuyển nhượng cổ phần). Vigecam trở thành cổ đông chiến lược tại Bảo Minh vào năm 2004 nên ít nhất đến năm 2007, DN này mới được bán số cổ phần trên, nhưng hợp đồng chuyển nhượng đã được được ký vào năm 2005. Cơ quan chức năng cho rằng, Hợp đồng số 01/HĐCN/05 có cơ sở pháp lý vì đó là hợp đồng có điều kiện khi quy định: bên Vigecam chịu trách nhiệm hoàn tất các thủ tục cần thiết để chuyển nhượng 434.000 cổ phần cho bên Vinacam ngay sau thời gian cho phép được quy định theo điều lệ tổ chức của Bảo Minh. Vậy nhưng trong đơn đề nghị giám đốc thẩm, Vigecam cho rằng, theo Luật Dân sự, hợp đồng được thực hiện khi phát sinh thêm những điều kiện nhất định, nhưng tất cả các điều kiện này đều phải phù hợp với pháp luật hiện hành ở thời điểm ký hợp đồng.

Xung quanh việc yêu cầu Vigecam bồi thường hơn 44,415 tỷ đồng cho Vinacam do chênh lệch giá cổ phần cũng có một số điểm cần bàn. Bản án của Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội ngày 20/7/2009 cho rằng: "Do Vigecam không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký dẫn đến Vinacam bị thiệt hại nghiêm trọng vì cổ phiếu giảm giá, lỗi hoàn toàn thuộc về phía Vigecam. Căn cứ vào tòa án cấp sơ thẩm đã xác định giá sàn của cổ phiếu Bảo Minh ngày 10/9/2007 (và tại thời điểm xét xử sơ thẩm ngày 11/2/2009) để xác định thiệt hại buộc Vigecam phải bồi thường cho Vinacam với tổng số tiền  trên 44,41 tỷ đồng". Vấn đề đặt ra là liệu Vigecam có bán được toàn bộ số cổ phần BMI vào ngay ngày 10/9/2007 (thời điểm Vigecam hết vai trò cổ đông chiến lược tại Bảo Minh và thực hiện chuyển nhượng với Vinacam) với giá gần 80.000 đồng/CP hay không? Vì sao Tòa phúc thẩm xét xử ngày 20/7/2009 không chốt giá cổ phần vào ngày đó hoặc trước đó 1 ngày (giá bình quân khoảng 24.800 đồng/CP) mà lại lấy giá  vào ngày 11/2/2009 (14.000 đồng/CP) để xác định mức thiệt hại cho Vinacam? Giả định Hợp đồng số 01/HĐCN/05 có hiệu lực và Vigecam phải tuân thủ phán quyết của Tòa thì số tiền DN này phải đền bù chênh lên khá lớn.

Qua câu chuyện này, có thể thấy việc mua - bán cổ phần hạn chế chuyển nhượng, nhất là cổ phần của cổ đông chiến lược chưa hết hạn chuyển nhượng là hết sức rủi ro. ĐTCK sẽ tiếp tục thông tin đến bạn đọc diễn biến vụ việc trên. 

(NGÂN GIANG)

Báo Đầu tư Chứng khoán số 137:

Tranh chấp CP Bảo Minh: Hai đương sự cùng kiến nghị lên giám đốc thẩm

(ĐTCK-online) Bài “Tranh chấp mua bán CP BMI: Hai cấp tòa vẫn chưa dứt điểm”, đã đăng trên ĐTCK đã nhận được nhiều ý kiến phản hồi của bạn đọc bày tỏ sự quan tâm đến vụ việc. Hiện nay, cả 2 DN trong vụ tranh chấp này (Vigecam và Vinacam) đều không đồng ý với phán quyết của tòa phúc thẩm và tiếp tục làm đơn kiến nghị xử ở cấp giám đốc thẩm. Trong khi phía Vigecam đòi hủy hợp đồng chuyển nhượng cổ phiếu thì Vinacam lại đòi được số tiền bồi thường cao hơn: 61 tỷ đồng. Để rộng đường dư luận, chúng tôi xin giới thiệu một số ý kiến của DN liên quan đến vụ việc này.

Ông Nguyễn Đình Cung, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

Trong trường hợp một DNNN mua cổ phần của một CTCP và trở thành cổ đông chiến lược của DN đó, nhưng chưa hết thời gian hạn chế chuyển nhượng đã thực hiện chuyển nhượng thì Tòa án có thể tuyên hợp đồng chuyển nhượng có hiệu lực cũng được, mà không cũng được. Lý do là Luật Doanh nghiệp không quy định gì về cổ đông chiến lược, Luật chỉ nói cổ đông sáng lập, chứ không nói cổ đông chiến lược. Vì thế, nếu điều lệ DN đưa vào khái niệm này thì có thể sai luật. Nếu lấy luật trên lệ sẽ xử ra một kết quả, còn nếu lấy lệ trên luật thì sẽ ra kết quả khác.

Trường hợp DNNN mua CP của DN ở ngoài (trong trường hợp này là DN đầu tư ra ngoài ngành), sau đó bán lại thì không nhất thiết phải đấu giá. Khi bán phải thông báo, chào bán ra thị trường bán với giá cao nhất cho DN. Đấu giá hay không không quan trọng mà tìm cách bán với giá cao nhất. Phải xác định giá thị trường thời điểm bán để xem giá có hợp lý hay không, chứ vấn đề không phải là đấu giá hay không.

 

Ông Nguyễn Thế Dũng, Ủy viên HĐQT, Tổng công ty Vật tư Nông nghiệp (Vigecam)

Chúng tôi có cơ sở để kiến nghị giám đốc thẩm về vụ tranh chấp này. Một là việc chuyển nhượng CP Bảo Minh từ Vigecam sang Vinacam sai với điều lệ CTCP Bảo hiểm Bảo Minh. Theo quy định tại Điều lệ thì sau 3 năm mới được chuyển nhượng, nhưng trên thực tế thì sau 1 năm đã chuyển nhượng. Thứ hai, theo chúng tôi được biết, việc bán cổ phần tại CTCP (CTCP bảo hiểm Bảo Minh - PV) là phải thông qua đấu giá. Ngày đó Vigecam ký hợp đồng bán cổ phần tại Bảo Minh cho Vinacam là sai luật. Như vậy, Tòa phải tuyên hợp đồng vô hiệu và Vigecam phải trả lại số tiền gốc  cũng như lãi suất và hệ số trượt giá cho Vinacam. Phán quyết của hai cấp tòa như thế là mang tính áp đặt, không đúng quy định của pháp luật. Bản thân Vigecam được giao quản lý vốn và tài sản Nhà nước thì phải có trách nhiệm bảo vệ nguồn vốn này.

 Ông Vũ Duy Hải, Chủ tịch HĐQT CTCP Vinacam

Sau khi Tòa Phúc thẩm tòa án nhân dân tối cao tuyên án, CTCP Vinacam cũng kiến nghị giám đốc thẩm. Bởi theo tính toán của chúng tôi thì thiệt hại do việc không hoàn thành việc mua - bán cổ phần này lớn hơn nhiều mức 46 tỷ đồng. Chúng tôi có đầy đủ hồ sơ chứng minh thiệt hại là 61 tỷ đồng.

Phía Vigecam cho rằng, Hợp đồng 01 HĐCN/05 là vô hiệu, nhưng chưa bao giờ Vigecam có yêu cầu chính thức với tòa đề nghị xử hợp đồng vô hiệu. Theo quy định của pháp luật, nếu không đề nghị thì người ta không xem xét. Bên cạnh đó, tôi không thấy có văn bản nào của Bộ Tài chính cho rằng, Vigecam phải thực hiện đấu giá CP Bảo Minh khi bán.

Tòa phúc thẩm tại Hà Nội, Tòa án Nhân dân tối cao ngày 20/7/2009 tuyên xử:

·                  Buộc Tổng Công ty Vật tư Nông nghiệp (Vigecam) phải tiến hành hoàn tất thủ tục chuyển nhượng quyền sở hữu 607.000 CP của Tổng CTCP Bảo Minh mà Vigecam đang đứng tên cho Vinacam.

·                  Buộc Vigecam phải trả lại cổ tức Bảo Minh năm 2007 cho Vinacam số tiền 425,320 triệu đồng.

·                  Buộc Vigecam phải bồi thường thiệt hại chênh lệch giá CP cho Vinacam số tiền là hơn 44,415 tỷ đồng.

·                  Bác yêu cầu hủy Hợp đồng mua bán CP số 01HĐCN ngày 24/8/2005 của Vigecam.


(Ngân Giang lược ghi)

 Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh số 313:

Chuyển nhượng cổ phần sai đền 45 tỉ đồng

(PL)- Hơn năm năm sau ngày một tổng công ty nhà nước ký hợp đồng chuyển nhượng cổ phiếu cho một doanh nghiệp tư nhân, hợp đồng này vẫn chưa được thực hiện vì vấn đề hợp đồng có vô hiệu hay không vẫn còn nằm trong vòng luẩn quẩn.

Chuyển nhượng tài sản nhà nước sai luật

Ông Nguyễn Thế Dũng, ủy viên HĐQT Tổng Công ty Vật tư nông nghiệp - Vigecam (Hà Nội), cho biết năm 2004 Vigecam đã mua cổ phần của một công ty và trở thành cổ đông sáng lập của đơn vị này.

Đến năm 2005, do nợ ngân hàng nhiều nên HĐQT của Vigecam quyết định bán toàn bộ cổ phần đã mua hồi năm 2004 cho Công ty cổ phần Vinacam (TP.HCM). Nhưng do Vigecam là cổ đông chiến lược của đơn vị mà Vinacam đã mua cổ phiếu nên số cổ phiếu này chỉ được chuyển nhượng sau ba năm kể từ ngày công ty mình có cổ phiếu được cấp giấy đăng ký kinh doanh. Vì vậy, hai bên cam kết phải hơn hai năm sau khi ký hợp đồng, tức là đến tháng 9-2007 thì mới được chuyển nhượng cổ phần cho Vinacam.

Ông Dũng cho biết vào thời điểm Vigecam phải sang tên chuyển nhượng cổ phần thì tổng giám đốc cũ bị khởi tố vì có sai phạm, nhân sự ban lãnh đạo của công ty cũng thay đổi.

Rà soát các hợp đồng do những người tiền nhiệm đã ký, ban lãnh đạo mới nhận thấy hợp đồng bán cổ phần trên sai quy định quản lý nguồn vốn nhà nước. Đơn vị này đã làm công văn xin ý kiến của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước) và được trả lời: Số cổ phần đó là tài sản nhà nước, nếu muốn chuyển nhượng thì phải tổ chức đấu giá. Hợp đồng đã ký trước đây là trái luật.

“Chúng tôi đã nhiều lần gửi văn bản cho Vinacam đề nghị hủy hợp đồng và chấp nhận trả lại toàn bộ số tiền gốc, tiền lãi suất ngân hàng, nhưng Vinacam không chấp nhận. Vinacam nói rằng nếu hủy hợp đồng thì họ sẽ bị thiệt hại đến 62 tỉ đồng, gấp hơn 10 lần giá trị hợp đồng ở thời điểm chuyển nhượng (5,6 tỉ đồng). Không thỏa thuận được cách giải quyết nên hai bên kéo nhau ra tòa” - ông Dũng nói.

Cơ quan chuyên ngành và tòa “chỏi” nhau

Ở cả hai phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, hội đồng xét xử đều cho rằng trong trường hợp Vigecam đầu tư vào doanh nghiệp khác thì đơn vị này phải là đại diện chủ sở hữu vốn của nhà nước.

Hội đồng xét xử lý giải, sau ba năm kể từ ngày công ty cổ phần được cấp phép thì số cổ phần của cổ đông sáng lập không bị hạn chế chuyển nhượng. Do đó, Vigecam có quyền tự quyết định mua bán cổ phiếu mà công ty này đã bỏ vốn đầu tư.

Tòa viện dẫn quy định: “Theo quy định tại Nghị định 199/2004/NĐ-CP, doanh nghiệp nhà nước có quyền chủ động quyết định bán phần vốn đầu tư dài hạn của mình tại doanh nghiệp khác để thu hồi vốn”.

Tòa tuyên Vigecam phải chuyển nhượng số cổ phần nêu trên cho đối tác, kèm khoản tiền bồi thường trị giá 45 tỉ đồng.

Phản bác quan điểm của tòa án, Bộ Tài chính lại có công văn khẳng định vì Vigecam là doanh nghiệp nhà nước nên việc chuyển nhượng cổ phần của đơn vị này phải báo cáo với đại diện chủ sở hữu xem xét quyết định. Cơ quan này viện dẫn quy định tại Thông tư số 33/2005/TT-BTC: “Nếu tổng mệnh giá của số cổ phần từ năm tỷ đồng trở lên thì phải đấu giá tại trung tâm giao dịch chứng khoán”.

Trước những rắc rối trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có công văn kiến nghị gửi Thủ tướng và các cơ quan có thẩm quyền đề nghị xem xét lại bản án theo trình tự giám đốc thẩm.

Mới đây nhất, theo Công văn số 5667/VPCP-KNTN của Văn phòng Chính phủ gửi chánh án TAND tối cao, cơ quan này đã truyền đạt ý kiến của Thủ tướng: “Đề nghị chánh án TAND tối cao xem xét, xử lý phản ánh kiến nghị của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn theo quy định của pháp luật và thông báo cho Thủ tướng biết kết quả”.


Luật sư Phan Thùy Dương, Đoàn Luật sư TP.HCM :

Cổ phiếu đã niêm yết không được giao dịch ngoài sàn

Vào thời điểm ký kết hợp đồng, do bên bán chưa có quyền bán cổ phiếu nên giao dịch này là một dạng giao dịch có điều kiện và hợp đồng chưa có hiệu lực theo Điều 134 Bộ luật Dân sự. Phải đến tháng 9-2007, khi điều kiện về thời gian đã xảy ra thì hợp đồng mới bắt đầu có giá trị. Tuy nhiên, vào thời điểm giao dịch có hiệu lực thì khi đó Luật Chứng khoán đã ra đời, số cổ phiếu mà hai bên giao dịch đã được niêm yết trên Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM.

Theo Điều 41 Luật Chứng khoán và Nghị định 14/2007/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật, mọi giao dịch cổ phiếu niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán phải tuân theo nguyên tắc đấu giá với kỹ thuật khớp lệnh trên sàn chứng khoán. Mọi cổ phiếu đã được niêm yết không được giao dịch bên ngoài. Vì vậy, hợp đồng chuyển nhượng mua bán cổ phiếu của hai đơn vị này phải tuân theo quy định trên, nếu không tuân thủ thì đương nhiên vô hiệu.

 

Luật sư Nguyễn Văn Tú, Phó Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Bắc Giang:

Giá cổ phiếu giữa hai phiên xử chênh lệch

Ngay cả trong việc tòa căn cứ vào giá trị cổ phiếu trong phiên tòa sơ thẩm để áp dụng trong phiên xử phúc thẩm là không đúng với nguyên tắc xác định giá trị thiệt hại thực tế. Nếu tòa đã chấp nhận sự chênh lệch giá trị cổ phiếu trên thị trường để tính bồi thường thiệt hại thì tòa phải xác minh lại giá trị cổ phiếu tại thời điểm xử phúc thẩm. Án sơ thẩm xử ngày 12-2-2009, án phúc thẩm xử ngày 20-7-2009. Thực tế là trong thời điểm diễn ra hai phiên xử, giá trị cổ phiếu trên thị trường hoàn toàn khác nhau.

THANH TÚ


  Gửi phản hồi cho chúng tôi

Tin Cùng Chuyên Mục



  • Phân bón DAP Humic
  • Phân bón DAP Humic
  • Phân bón DAP Humic
  • Phân bón DAP Humic

Thành tựu vinacam


Vinacam Năm Trong TOP 500 Doanh Nghiệp Lớn Nhất Việt Nam 2016

Hành khúc vinacam



Quảng cáo Kali



Đọc nhiều



Sản phẩm chính



Video Công Ty



Đối tác chiến lược